Du lịch Tây Nguyên : Đà Nẵng – Kon Tum – Đà Lạt – Nha Trang – Quy Nhơn – 8 Ngày

Tour-Tay-Nguyen
Thời gian: 8 Ngày 7 Đêm Ngày khởi hành: Liên tục Năm 2013 Địa điểm: Đà Nẵng - Kon Tum - Đà Lạt - Nha Trang - Quy Nhơn Xuất phát: Đà Nẵng - Trở về: Đà Nẵng Đơn vị tổ chức: Vina Holiday Travel Phương tiện: Máy Bay/ Oto Điện thoại: 0422400222 - 0422400333 Hotline: 0945.836.836 Giá: Xin liên hệ

Vùng Tây Nguyên, một thời gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Tây Nguyên là một tiểu vùng, cùng với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hợp thành vùng Nam Trung Bộ, thuộc Trung Bộ Việt Nam.

Đặt Tour

Dat Tour

Đặt tour

CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH ĐÀ NẴNG – KON TUM – ĐÀ LẠT – NHA TRANG – QUY NHƠN

Thời gia 8 ngày 7 đêm

Ngày 01 : Đón khách – Đà Nẵng – Kon Tum (Ăn trưa & tối)

Sáng : Xe & hướng dẫn đón khách tại điểm hẹn Đà Nẵng, khởi hành đi Kon Tum, qua quốc lộ 14B vào đường Hồ Chí Minh, trên đường ghé thăm làng dân tộc Đắc Wắc và Đắc Răng, mục kích đồi Charly, sân bay Phượng Hoàng, tham quan tượng đài chiến thắng Đắc Tô – Tân Cảnh nơi đặt chiếc xe tăng trong bài hát “Năm anh em trên 1 chiếc xe tăng” của nhạc sỹ Doãn Nho.

Trưa : Ăn trưa trên đường.

Chiều : Về Kon Tum nhận phòng k/sạn nghỉ ngơi.

Tối : Ăn tối, đi thưởng thức thịt nướng, cơm lam, rượu cần và tham gia chương trình văn hoá văn nghệ cồng chiêng – lửa trại với bà con làng dân tộc Bana, Cơ Tu.

Ngày 02 : Kon Tum -  Pleiku (Ăn sáng, trưa & tối)

Sáng : Điểm tâm, tham quan Nhà Thờ Gỗ, Cô Nhi Viện & Toà Giám Mục.

Trưa : Ăn trưa.

Chiều : Khởi hành đi Pleiku, tham quan Thủy Điện Ialy làng Pleiphun (dân tộc Jơrai), tìm hiểu phong tục tập quán và những sinh hoạt thường nhật của người dân (nhà Rông, nhà mồ, tượng nhà mồ, bến nước,…) và Biển Hồ Tơ Nưng. Về nhận phòng K/sạn nghỉ ngơi.

Tối : Ăn tối nhà hàng và tự do khám phá thành phố Pleiku về đêm.

Ngày 03 : Pleiku – Buôn Mê Thuột (Ăn sáng, trưa & tối)

Sáng : Điểm tâm. Rời Pleiku đi Buôn Ma Thuột Quý khách tham quan nhà gỗ cổ 117 tuổi của vua săn voi Khunzunốp với lối kiến trúc rất độc đáo và mộ vua săn bắt voi. Thăm Buôn Đôn để nghe kể chuyện nghề săn bắt và thuần dưỡng voi, tham quan hồ Dakmin và thám hiểm rừng nguyên sinh (cưỡi voi dã ngoại trong rừng quý khách tự thanh toán phí).

Trưa : Ăn trưa đặc sản trong rừng và uống rượu cần.

Chiều : Về nhận phòng khách sạn nghỉ ngơi.

Tối : Ăn tối ở khách sạn. Tự do khám phá thành phố Buôn Ma Thuột về đêm.

Ngày 04 : Buôn Mê Thuột – Đà Lạt (Ăn sáng, trưa & tối)

Sáng : Điểm tâm. Rời Buôn Mê Thuột, quý khách đi Đà Lạt, tham quan Hồ Lak, khám phá đời sống đồng bào dân tộc Tây Nguyên.

Trưa : Ăn trưa trên đường.

Chiều : Đến Đà Lạt nhận phòng khách sạn nghỉ ngơi.

Tối : Ăn tối nghỉ ngơi. Tôi quý khách khám phá Tp. Đà Lạt về đêm.

Ngày 05 : Đà Lạt (Ăn sáng, trưa & tối)

Sáng : Sau khi ăn sáng, quý khách khởi hành tham quan Vườn Hoa Thành Phố, Thung Lũng Tình Yêu, Nhà Thờ Doman De Maria.

Trưa : Ăn trưa nhà hàng

Chiều : Quý khách tham quan thác Datanla, Trúc Lâm Thuyền Viện, Dinh Bảo Đại.

Tối : Ăn tối ngủ khách sạn.

Ngày 06 : Đà Lạt – Nha Trang (Ăn sáng, trưa & tối)

Sáng : Sau khi ăn sáng, khởi hành đi Nha Trang trên con đường mới.

Trưa : Ăn trưa nhận phòng khách sạn

Chiều : Đi tham quan Viện Hải Dương Học, Tháp Bà Pônaga, tắm bùn khoán Tháp Bà gồm: tắm nước ấm, ngâm bùn tập thể, ngâm nước khoán nóng, tắm hồ bơi, tắm thác nước khoáng và truyền thuỷ lực. Xe đưa quý khách đi đến bến tàu của khu du lịch Hòn Ngọc Việt. Quý khách lên phà hoặc cáp treo tùy chọn sang khu du lịch Vinpearl Land, xem biểu diễn xiếc Khỉ-Chó, vui chơi tại công viên nước. Tiếp tục đi tham và mua sắm tại khu phố thời trang, vui chơi các trò chơi cảm giác mạnh, trò chơi điện tử, xem phim không gian 4 chiều 4D.

Tối : Ăn tối, xem chuơng trình biểu diễn Nhạc nước cùng ánh sáng Lasez, ra lại bến thuyền về Nha Trang nghỉ đêm tại khách sạn.

Ngày 07: Nha Trang – Quy Nhơn (Ăn sáng, trưa & tối)

Sáng : Ăn sáng trả phòng, đi thăm Chùa Long Sơn quý khách sẽ được bách bộ lên đến tượng phật đài lộ thiên lớn nhất tỉnh Khánh Hòa, đi mua sắm tại chợ Đầm.

Trưa : Ăn trưa.

Chiều : Xe đưa quý khách đi Quy Nhơn thăm KDL Ghềnh Ráng nơi có Bãi Trứng, mộ Hàn Mạc Tử ,quý khách sẽ chứng kiến tài nghệ bút lửa Dzũ Kha, đọc những bài thơ “Tình” của thi sỹ Hàn. Về khách sạn nhận phòng nghỉ ngơi.

Tối : Ăn tối, tự do khám phá thành phố Quy Nhơn đi siêu thị Co-op Mark.

Ngày 08 : Quy Nhơn – Đà Nẵng (Ăn sáng, trưa & tối)

Sáng : Ăn sáng trả phòng khách sạn, đi thăm cầu Thị Nại cây cầu vượt biển dài nhất Việt Nam, tiếp tục đi thăm Bảo tàng Quang Trung quý khách sẽ có dịp chứng kiến công cuộc mở mang bờ cõi của người Anh hùng áo vải, xem biễu diễn nghệ thuật trống hội Quang Trung.

Trưa : Ăn trưa trên đường.

Chiều : Khởi hành về Đà Nẵng.

GIÁ TOUR DU LỊCH XXXXX VNĐ/ KHÁCH

Khách đoàn lớn có giá cực tốt xin liên hệ để biết thêm chi tiết

Xin lưu ý giá có thể thay đổi, xin quý khách vui lòng gọi 0422400222 – 0422400333 để có giá tốt nhất

 

Giá tour bao gồm

  • Ăn các bữa theo chương trình: Điểm tâm tại K/sạn. Ăn (100.000đ/bữa trưa – tối) tại các nhà hàng. Ăn tối Gala Dinner hoành tráng với nhiều tiết mục hấp dẫn (Đố vui có thưởng, Chia nhóm chơi trò chơi nhỏ, hát cho nhau nghe…).
  • Khách sạn tiêu chuẩn 2 người/phòng
  • Cáp treo Bà Nà khứ hồi.
  • Tàu cao tốc chất lượng cao
  • Vé tham quan các điểm.
  • Hướng dẫn viên tiếng Việt phục vụ tận tình.
  • Phục vụ 02 nước 0.5l/khách /ngày.
  • Bảo hiểm du lịch.

Không bao gồm

  • Chi phí cá nhân, uống tự gọi trong các bữa ăn,.. và tham quan vận chuyển ngoài chương trình.
  • Phụ thu phòng đơn (nếu có)
  • Thuế VAT

Du-lich-Tay NguyenNha-Rong-Tay-NguyenTay-NguyenTour-Tay-Nguyen

TÂY NGUYÊN

Vùng Tây Nguyên, một thời gọi là Cao nguyên Trung phần Việt Nam là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Tây Nguyên là một tiểu vùng, cùng với vùng Duyên hải Nam Trung Bộ hợp thành vùng Nam Trung Bộ, thuộc Trung Bộ Việt Nam.

Địa lý Tây Nguyên

Vị trí địa hình

Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia). Trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia. Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế. Nếu xét diện tích Tây Nguyên bằng tổng diện tích của 5 tỉnh ở đây, thì vùng Tây Nguyên rộng 54.641,0 km².

Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề. Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500 m, cao nguyên Kon Plông, cao nguyên Kon Hà Nừng, Plâyku cao khoảng 800 m, cao nguyên M’Drăk cao khoảng 500 m, cao nguyên Buôn Ma Thuột cao khoảng 500 m, Mơ Nông cao khoảng 800–1000 m, cao nguyên Lâm Viên cao khoảng 1500 m và cao nguyên Di Linh cao khoảng 900–1000 m. Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao (chính là Trường Sơn Nam).

Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trước là một tỉnh), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng). Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam.

Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như cà phê, ca cao, hồ tiêu, dâu tằm. Cây điều và cây cao su cũng đang được phát triển tại đây. Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên. Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ. Và đang tiến hành khai thác Bô xít. Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn, Tây nguyên có thể coi là mái nhà của miền trung, có chức năng phòng hộ rất lớn. Tuy nhiên, nạn phá rừng, hủy diệt tài nguyên thiên nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chận được tại đây có thể dẫn đến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng và thay đổi môi trường sinh thái.

Khí hậu Tây Nguyên

Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, khí hậu ở Tây Nguyên được chia làm hai mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, trong đó tháng 3 và tháng 4 là hai tháng nóng và khô nhất. Do ảnh hưởng của độ cao nên trong khi ở các cao nguyên cao 400–500 m khí hậu tương đối mát và mưa nhiều, riêng cao nguyên cao trên 1000 m (như Đà Lạt) thì khí hậu lại mát mẻ quanh năm, đặc điểm của khí hậu núi cao.

Lịch sử Tây Nguyên

Lịch sử hình thành

Trước thế kỷ 19

Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh. Do đất rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn công của vương quốc Champa ở phía đông hoặc Chân Lạp ở phía tây nhằm cướp bóc và bắt nô lệ. Tháng 2 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Chà Bàn, bắt sống vua Champa là Trà Toàn, sáp nhập 3 phần 5 lãnh thổ Champa thời đó vào Đại Việt. Hai phần Champa còn lại, được Lê Thánh Tông chia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt. Phần đất Phan Lung (tức Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn giữ, được vua Lê coi là phần kế thừa của vương quốc Chiêm Thành. Một phần đất nay là tỉnh Phú Yên, Lê Thánh Tông phong cho Hoa Anh vương tạo nên nước Nam Hoa. Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương.

Sau khi Chúa Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn bán nô lệ. Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trong một số tài liệu vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Đá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Đá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay.

Tuy sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời nhà Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789)[3]. Tây Sơn thượng đạo, vùng đất phía Tây đèo An Khê là một căn cứ chuẩn bị lực lượng cho quân Tây Sơn thủơ ban đầu. Người lãnh đạo việc hậu cần này của quân Tây Sơn là người vợ dân tộc Ba Na của Nguyễn Nhạc.

Thời nhà Nguyễn

Sang đến triều nhà Nguyễn, quy chế bảo hộ trên danh nghĩa dành cho Tây Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, mặc dù vua Minh Mạng có đưa phần lãnh thổ Tây Nguyên vào bản đồ Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ – 1834). Người Việt vẫn chú yếu khai thác miền đồng bằng nhiều hơn, đặc biệt ở các vùng miền Đông Nam Bộ ngày nay, đã đẩy các bộ tộc thiểu số bán sơn địa lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ). Trong cuốn Đại Việt địa dư toàn biên, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu có viết: Thủy Xá, Hỏa Xá ở ngoài cõi Nam Bàn nước Chiêm Thành. Bấy giờ trong Thượng đạo tỉnh Phú An có núi Bà Nam rất cao. Thủy Xá ở phía Đông núi ấy, … Hỏa Xá ở phía Tây núi ấy, phía Tây tiếp giáp với xứ Sơn Bốc sở nam nước Chân Lạp, phía Nam thì là Lạc man (những tộc người du cư). Phía trên là sông Đại Giang, phía dưới là sông Ba Giang làm giới hạn bờ cõi hai nước ấy…

Thời Pháp thuộc

Sau khi người Pháp nắm được quyền kiểm soát Việt Nam, họ đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đất Tây Nguyên. Trước đó, các nhà truyền giáo đã đi tiên phong lên vùng đất còn hoang sơ và chất phác này.

Năm 1888, một người Pháp gốc đảo Corse tên là Mayréna sang Đông Dương, chọn Dakto làm vùng đất cát cứ và lần lượt chinh phục được các bộ lạc thiểu số. Ông thành lập Vương quốc Sedang có quốc kỳ, phát hành giấy bạc, có cấp chức riêng và tự mình lập làm vua xưng là Marie đệ nhất. Nhận thấy được vị trí quan trọng của vùng đất Tây Nguyên, nhân cơ hội Mayréna về châu Âu vận động xin viện trợ từ các cường quốc Tây phương, chính phủ Pháp đã đưa công sứ Quy Nhơn lên tiếp thu. Mayréna trên đường trở lại Đông Dương khi quá cảnh Tân Gia Ba thì bị nhà chức trách giữ lại. Chính phủ Pháp cũng ra lệnh cấm Mayréna nhập cảnh. Mayréna mất không lâu sau đó ở Mã Lai. Vùng Tây Nguyên kể từ năm 1889 được đặt dưới quyền quản lý của Công sứ Quy Nhơn và vương quốc Sedang cũng bị giải tán.

Năm 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra cao nguyên Lang Biang. Ông đã đề nghị với chính phủ thuộc địa xây dựng một thành phố nghỉ mát tại đây. Nhân dịp này, người Pháp bắt đầu chú ý khai thác kinh tế đối với vùng đất này. Tuy nhiên, về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc quyền kiểm soát của triều đình Huế. Vì vậy, ngày 16 tháng 10 năm 1896, khâm sứ Trung Kỳ là Léon Jules Pol Boulloche đề nghị Cơ mật viện triều Nguyễn giao cho Pháp trực tiếp phụ trách an ninh tại các cao nguyên Trung Kỳ. Năm 1898, khi vương quốc Sedang bị giải tán thì ngay năm sau, tức 1899, thực dân Pháp buộc vua Đồng Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có toàn quyền tổ chức hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây. Năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer đích thân thị sát Đà Lạt và quyết định chọn Đà Lạt làm thành phố nghỉ mát, bắt đầu sự can thiệp trực tiếp trên cao nguyên.

Các tên gọi trong lịch sử

  • Theo Nguyễn Đình Tư trong bài Tây Nguyên xưa và nay, tạp chí Xưa và nay, số 61B, tháng 3 năm 1999, thì địa danh Tây Nguyên được biết đến từ năm 1960, khi công bố Hiến pháp 1959 của Việt Nam Cộng hòa, trong đó có điều khoản về các khu tự trị của các sắc tộc thiểu số và có nhắc đến Tây Nguyên.
  • Trước đó, từ thời Pháp thuộc, vùng đất này chưa có tên gọi riêng mà chỉ là đơn vị hành chính trực thuộc Khâm sứ Trung Kỳ, nên có tên là vùng Cao nguyên Trung Kỳ. Ngoài ra, người Pháp còn gọi nơi này là Les Hauts Plateaux du Sud (Cao nguyên miền Nam). Thời nhà Nguyễn, vùng đất này được thuộc về châu Thượng Nguyên (bao gồm Thủy Xá, Hỏa Xá là vùng đất cư trú của người Êđê, Gia Rai, Ba Na và là một phần Tây Nguyên ngày nay)
  • Sau khi Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim đã đổi tên đơn vị hành chính cấp Kỳ thành cấp Bộ. Từ đó vùng đất này được gọi là Cao nguyên Trung Bộ trong khi người Pháp thành lập Xứ Thượng Nam Đông Dương (Pays Montagnard du Sud-Indochinois) năm 1946.
  • Khi Quốc gia Việt Nam thành lập, Quốc trưởng Bảo Đại đã đổi tên đơn vị hành chính cấp Bộ thành cấp Phần. Riêng khu vực cao nguyên được tách ra và được hưởng quy chế hành chính đặc biệt có tên là Hoàng triều Cương thổ kể từ năm 1950. Tại vùng này thì Quốc trưởng Bảo Đại vẫn giữ vai trò là Hoàng đế.
  • Đến năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm chấm dứt chế độ Bảo đại và thành lập nền Đệ nhất Cộng hòa. Hoàng triều cương thổ lại được sát nhập vào Trung phần và được gọi là vùng Cao nguyên Trung phần. Tên gọi này được chế độ Việt Nam Cộng hòa sử dụng mãi cho đến năm 1975.

Dân cư Tây Nguyên

Thời Pháp thuộc người Kinh bị hạn chế lên vùng Cao nguyên nên các bộ tộc người Thượng sinh hoạt trong xã hội truyền thống. Mãi đến giữa thế kỷ 20 sau cuộc di cư năm 1954 thì số người Kinh mới tăng dần. Trong số gần một triệu dân di cư từ miền Bắc thì chính phủ Quốc gia Việt Nam đưa lên miền cao nguyên 54.551 người, đa số tập trung ở Đà Lạt và Lâm Đồng.

Từ đó nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông… Chính quyền Việt Nam Cộng hòa gọi chung những dân tộc này là “đồng bào sắc tộc” hoặc “người Thượng”; “Thượng” có nghĩa là ở trên, “người Thượng” là người ở miền cao hay miền núi, một cách gọi đặc trưng để chỉ những sắc dân sinh sống trên cao nguyên miền Trung. Danh từ này mới phổ biến từ đó thay cho từ ngữ miệt thị cũ là “mọi”.

Tính đến năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 853.820 người (chiếm 69,7% dân số). Năm 1993 dân số Tây Nguyên là 2.376.854 người, gồm 35 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 1.050.569 người (chiếm 44,2% dân số). Năm 2004 dân số Tây Nguyên là 4.668.142 người, gồm 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là 1.181.337 người (chiếm 25,3% dân số). Riêng tỉnh Đắc Lắc, từ 350.000 người (1995) tăng lên 1.776.331 người (1999), trong 4 năm tăng 485%. Kết quả này, một phần do gia tăng dân số tự nhiên và phần lớn do gia tăng cơ học: di dân đến Tây nguyên theo 2 luồng di dân kế hoạch và di dân tự do. Người dân tộc đang trở thành thiểu số trên chính quê hương của họ. Sự gia tăng gấp 4 lần dân số và nạn nghèo đói, kém phát triển và hủy diệt tài nguyên thiên nhiên (gần đây, mỗi năm vẫn có tới gần một nghìn héc-ta rừng tiếp tục bị phá [13] ) đang là những vấn nạn tại Tây Nguyên và thường xuyên dẫn đến xung đột. Theo kết quả điều tra dân số 01 tháng 04 năm 2009 dân số Tây Nguyên (gồm 05 tỉnh) là 5.107.437 người, như thế so với năm 1976 đã tăng 3,17 lần , chủ yếu lả tăng cơ học. Đến năm 2011, tổng dân số của 5 tỉnh Tây Nguyên là khoảng 5.282.000 người.

Danh lam thắng cảnh Tây Nguyên

1/ Tỉnh Đắk Lắk

Nằm trên cao nguyên Đắk Lắk, một trong 3 cao nguyên lớn của Tây Nguyên, có độ cao trung bình 400 – 800m so với mực nước biển, phía bắc và đông bắc giáp với Gia Lai, phía nam giáp với Lâm Đồng, phía tây giáp với Cam-pu-chia và tỉnh Đắk Nông, phía đông giáp với Phú Yên và Khánh Hòa.

Đắk Lắk có thác Thủy Tiên và những hồ nước thơ mộng như hồ Lắk, hồ Buôn Triết, hồ Ea Kao.

Có các khu rừng nguyên sinh, vườn quốc gia Yok Đôn, khu lâm viên Ea Kao.

Buôn Đôn nổi tiếng với nghề săn bắt và thuần dưỡng voi, các di tích lịch sử như tháp Chàm thế kỷ 13, biệt điện của cựu hoàng Bảo Đại, nhà tù Buôn Ma Thuột.

2/ Du lịch Ðắk Nông

Tỉnh Đắk Nông nằm ở phía tây nam Trung Bộ, đoạn cuối của dãy Trường Sơn, trên một vùng cao nguyên, độ cao trung bình 500m so với mực nước biển.

Đắk Nông có phong cảnh thác hùng vĩ, có tổ chức những đêm lửa trại với tiếng cồng chiêng và rượu cần.

Dòng Sêrepok tạo nên nhiều thác ghềnh đẹp, lúc hiền hòa, lúc dữ dội, hơn cả là thác Gia Long tựa như nàng sơn nữ ngủ quên với dáng vẻ hoang sơ và thác Dray Nur tựa bức tường thành khổng lồ. Ngoài ra còn có thác Diệu Thanh, Ba Tầng, Dray Sáp hay còn gọi là thác Khói vì nơi đây quanh năm có khói nước bay.

3/ Du lịch Gia Lai

Là một tỉnh miền núi, Gia Lai nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao 600 – 800m so với mực nước biển. Phía bắc Gia Lai giáp với tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía tây giáp với Cam-pu-chia, phía đông giáp với các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.

Gia Lai là vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hóa cổ xưa mang bản sắc các dân tộc thiểu số, chủ yếu là Gia Rai và Ba Na, thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y phục và nhạc cụ.

Gia Lai có nhiều suối hồ, ghềnh thác, đèo và những cánh rừng nguyên sinh có cảnh quan thiên nhiên mang đậm nét hoang sơ nguyên thủy của núi rừng Tây Nguyên như rừng nhiệt đới Kon Ka Kinh và Kon Cha Rang.

Thác Xung Khoeng ở huyện Chư Prông, thác Phú Cường ở huyện Chư Sê. Nhiều con suối đẹp như suối Đá Trắng, suối Mơ và các danh thắng khác như bến đò “Mộng” trên sông Pa, Biển Hồ (hồ Tơ Nưng) trên núi mênh mông và phẳng lặng. Núi Hàm Rồng cao 1.092m mà đỉnh là miệng của một núi lửa đã tắt.

4/ Du lịch Kon Tum

Kon Tum là tỉnh ở phía bắc cao nguyên Gia Lai – Kon Tum, một trong 3 cao nguyên lớn của Tây Nguyên.

Thành phố Kon Tum được xây bên bờ sông Đắk Bla, một nhánh của sông Pơ Kô là trung tâm hành chính cũ của Pháp ở Tây Nguyên. Các cố đạo Pháp đã đến đây từ năm 1851.

Có núi Ngoc Linh, khu rừng nguyên sinh Chư Môn Ray, Sa Thầy, khu du lịch Đắk Tre ở huyện Kon Plông, suối nước nóng Đắk Tô. Có nhà tù Kon Tum, ngục Đắk GLei, đường mòn Hồ Chí Minh, chiến trường Đắk Tô – Tân Cảnh.

Có hơn 20 dân tộc sinh sống, nhiều nhất là Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Gia Rai, B’ Râu, Rơ Mân… Phần lớn các dân tộc thiểu số sống bằng nghề làm nương rẫy và săn bắn. Có một nền văn hóa đa dạng, nhiều màu sắc của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên.

Trích Wikipedia

Lịch khởi hành du lịch nội địa

Tam-bien-Cua-Lo

Du lịch Cửa Lò: Hà Nội – Cửa Lò – quê Bác 3 ngày 2 đêm đi oto

Giá : 1.650.000 VNĐ Ngày khởi hành: Liên tục Thời gian: 3 Ngày 2 Đêm
du-lich-Mui-Ne

Du lịch Mũi Né: Tour Hà Nội – Mũi Né – Phan Thiết – 3 ngày 2 đêm

Giá : 2.099.000 VNĐ Ngày khởi hành: Liên tục Thời gian: 3 Ngày 2 Đêm
du-lich-tet-2013

Chương trình du lịch đón Noel và Tết ở trong nước 2013

Giá : Xin liên hệ Ngày khởi hành: Noel và Tết Thời gian: Xin xem ở bài viết
tour-du-lich-phu-quoc

DU LỊCH PHÚ QUỐC TẾT 2013: THỜI GIAN 4 NGÀY 3 ĐÊM

Giá : Dự kiến 6.800.000 VNĐ Ngày khởi hành: Dự Kiến Tết Dương lịch, Âm Lịch Thời gian: 4 Ngày 3 Đêm
vinpearl-land-Nha-Trang

DU LỊCH NHA TRANG TẾT 2013: NHA TRANG – VINPEARL LAND RESORT

Giá : Xin liên hệ Ngày khởi hành: Dự Kiến Tết Dương lịch, Âm Lịch Thời gian: 4 Ngày 3 Đêm
No-el

Các chương trình du lịch Noel và tết Dương Lịch

Giá : xem ở Chương Trình Ngày khởi hành: Trong chương trình Thời gian: Theo yêu cầu
Halong bay classic sails kayaking

Du thuyền Hạ Long Dolphin 1 Ngày

Giá : 810.000 VNĐ Ngày khởi hành: Hàng Ngày Thời gian: 1 Ngày
Ha-Giang-dulichkynghi

Du lịch Hà Giang: Tour Lũng Cú – Đồng Văn – Mèo Vạc

Giá : từ 2.990.000 VNĐ Ngày khởi hành: thứ 6 hàng tuần Thời gian: 4 Ngày 3 Đêm
Baidinh

Du lịch Tam Cốc – Bích Động – chùa Bái Đính

Giá : Vui lòng liên hệ Ngày khởi hành: Liên tục Thời gian: 1 Ngày
du-lich-bai-dinh

Du lịch biển Cửa Lò – Quê Bác – Bái Đính – Sầm Sơn

Giá : Xin liên hệ Ngày khởi hành: Theo yêu cầu Thời gian: 4 Ngày 3 Đêm

Lịch khởi hành du lịch quốc tế

Du-lich-Dai-Loan

Tour du lịch Đài Loan khởi hành tháng 3, 4, 5, 6, 7 năm 2013 từ HN, Sài Gòn

Giá : Xin liên hệ Ngày khởi hành: Tháng 3, 4, 5, 6 ,7 Thời gian: 5 Ngày/ 6 Ngày/ 7 Ngày
du-lich-chau-au-2013

Tour du lịch Châu Âu khởi hành tháng 3, 4, 5, 6, 7 năm 2013

Giá : Xin liên hệ Ngày khởi hành: Tháng 3, 4, 5, 6 ,7 Thời gian: 8 Ngày/ 9 Ngày/ 10 Ngày/ 11 Ngày ...
DU-LICH-CANADA-KHUYEN-MAI

Tour du lịch Canada khởi hành tháng 3, 4, 5, 6, 7 năm 2013

Giá : Xin liên hệ Ngày khởi hành: Tháng 3, 4, 5, 6 ,7 Thời gian: 9 Ngày/ 10 Ngày/ 11 Ngày/ 12 Ngày/ Theo yêu Cầu
canh-dep-campuchia

Tour du lịch Campuchia khởi hành tháng 3, 4, 5, 6, 7 năm 2013

Giá : Xin liên hệ Ngày khởi hành: Tháng 3, 4, 5, 6 ,7 Thời gian: 3 Ngày/ 4 Ngày/ 5 Ngày
An-do

Các tour du lịch Ấn Độ khởi hành tháng 3, 4, 5, 6, 7 năm 2013

Giá : Từ 33.600.000 VNĐ Ngày khởi hành: Tháng 3, 4, 5, 6 ,7 Thời gian: 6 Ngày, 8 Ngày, 9 Ngày, 10 Ngày
du-lich-mua-sam-shopping-singapore-vinaholidays

Du lịch Singapore 2013: HN – Singapore – Sentosa – Marina Bay Sand – 4 Ngày

Giá : 14.729.000 VNĐ Ngày khởi hành: Liên tục Năm 2013 Thời gian: 4 Ngày 3 Đêm
Cho-ho-bu-sua-o-thai-lan

Du lịch Thái Lan 2013: HN – Bangkok – Pattaya – 5 Ngày giá rẻ

Giá : Xin liên hệ Ngày khởi hành: Liên tục Năm 2013 Thời gian: 5 ngày 4 đêm
Du-lich-Seou-Han-Quoc

Du lịch Hàn Quốc 2013: Tour Hà Nội – Seoul – Jeju – Pusan – 7 Ngày

Giá : 22.029.000 VNĐ Ngày khởi hành: Liên tục năm 2013 Thời gian: 7 Ngày 6 Đêm
Du-lich-Ha-Lan

Du lịch Châu Âu 2013: Tour Hà Lan – Ý – Bỉ – Pháp – Đức 13 Ngày

Giá : 104.529.000 VNĐ Ngày khởi hành: Liên tục năm 2013 Thời gian: 13 Ngày 12 Đêm
SEAFOOD PROCESSING AMERICA 2013

Hội chợ Seafood Processing America 2013: Hội chợ quôc tế Thủy Sản tại Boston Hoa Kỳ 2013

Giá : 59.990.000 VNĐ Ngày khởi hành: 8/3/2013 Thời gian: 8 Ngày 7 Đêm

Công ty cổ phần ALI thương mại và dịch vụ - Vina Holidays

Số đăng ký kinh doanh: 0102897607

Mã số thuế: 0102897607

Văn Phòng Hà Nội

100 Nguyễn Tuân - Thanh Xuân - Hà Nội Đặt Tour du lịch VN và Quốc Tế : 0422400222 - 0422400333 - 0422668866 Hotline: 01254421111 Phòng vé máy bay 24/24 : 0462962557 - 0423.2222.23 - 0423240240 Hotline: 0125.248.9999

Văn Phòng Hồ Chí Minh

Lầu 5, số 614-616-618, Đường 3/2, Quận 10, Tp.Hồ Chí Minh Trung Tâm đặt phòng khách sạn toàn cầu: 0422400222 - 0422400333 Hotline 0945.836.836 Dịch vụ làm visa các nước: 0422400222 - 0422400333 Quý khách có than phiền về dịch vụ vui lòng liên hệ: 0943.345.345